Linh Mục Phê Rô Phan Văn Lợi – Đả Đảo Cộng Sản
-Toàn
thể dân Việt đang bước vào thời điểm tưởng niệm 50 năm biến cố Tết Mậu Thân
(1968-2018). Đây là sự kiện thuộc hạng đáng ghi nhớ nhất trong Việt sử vì nhiều
mối liên hệ: ý nghĩa thiêng liêng của ngày Tết dân tộc, cuộc tấn công của Cộng
sản VN bất chấp tuyên bố hưu chiến, sự thất bại thảm hại của cuộc tổng tấn công
về mặt quân sự và chính trị, tội ác đã gây ra cho chính Đồng bào Việt Nam, thái
độ cố chấp của Cộng sản không nhìn nhận sai phạm của họ, dù đã nửa thế kỷ.
Phạm Thanh Nghiên đã
có dịp gửi đến quý độc giả hai buổi phóng vấn trước với năm vị khách mời là anh
Lê Hưng (Hải Phòng), ông Ngô Nhật Đăng (Hà Nội), bà Ngô Thị Hồng Lâm, một người
gốc miền Bắc hiện sinh sống tại Sài Gòn, Linh mục Đinh Hữu Thoại (Dòng chúa cứu
thế Sài Gòn) và anh Phạm Văn Hải, một blogger tại Nha Trang. Vị khách mời thứ
sáu và cũng là buổi phỏng vấn thứ ba liên tiếp xin được gửi đến quý vị những
chia sẻ của Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi. Buổi phỏng vẩn thứ 4 với một bạn sinh viên tại
miền Trung sẽ được chuyển đến quý độc giả vào ngày mai, ngày 18 tháng 1 năm
2014.
Phan Hữu Trí – NDHĐ - Theo nguồn tin do Chí
Hùng gởi đi từ IDC Bangkok hôm nay thì vào ngày 16 tháng 7 vừa qua, ông Nguyễn Văn Mười, tức Mười Rụng, một "cựu tù chính trị" được cảnh sát di
trú Thái Lan cùng Ông Trần Văn Liên, Tham Tán Chính Trị (+66) 8 2447 1978) tiễn
ra sân bay quốc tế Sunavabhumi, thuộc ngoại ô Bangkok để đáp máy bay trở về quê
hương sau ngót 3 năm đến phủ Cao Ủy Tỵ Nạn tại Bangkok xin quy chế tỵ nạn chính
trị.
Chuyện
kể lại sự thật của một chiến sĩ Biệt Kích nhảy toán, sau ngày 30 tháng
4, 1975 vẫn tiếp tục chiến đấu chống bạo quyền Cộng Sản Việt Nam, sống
lưu vong trên đất nước của mình suốt 30 năm, năm 2006 Biệt Kích Tango
Ngô Văn Tài trốn sang Cambodia nhưng nơi đây cũng đầy dẫy mạn lưới tình
báo của Việt Cộng… xin mời độc giả đọc một bài có giá trị về đấu tranh
hiện nay.
Tác giả Ngô Văn Tài
Từ
sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975, hàng triệu người Việt nam đã bỏ
nước ra đi tìm tự do bằng đường thủy, đường bộ, và bằng tất cả mọi
phương tiện mà họ có thể có được. Cái giá của tự do dân chủ mà người dân
Việt mất nước phải đánh đổi là chính tài sản và tính mạng của họ và gia
đình. Tất nhiên để có được khoảng 3 triệu người Việt đến được bến bờ tự
do, thì cũng có xấp xỉ con số đó, gồm cả phụ nữ và trẻ em, đã phải vĩnh
viễn nằm lại đâu đó trên hành trình đi tìm tự do đó mà mối hiểm họa đến
từ nhiều phía: sự truy sát của công an biên phòng và hải tuần của cộng
sản Việt nam, bão tố phong ba, hải tặc cướp giết.
Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kitô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng.Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên… Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…
Phó
Giáo Sư, Tiến Sỹ NGUYỄN VĂN ĐỆ, Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp Chuyển Tin
– Tổ Chức Ân Xá Quốc tế nhận thấy trong dịp Quốc khánh
lần thứ 71, Việt Nam đã trả tự do trước thời hạn cho hơn 2,000 tù
nhân và giảm án cho hơn 22,600 tù nhân khác. Thật tiếc là trong số
những người nói trên không có một ai được xác định là tù nhân lương
tâm.
Vừa qua, tại diễn đàn an ninh khu vực
thường niên, Đối thoại Shangri-La tổ chức ở Singapore hôm 31 tháng 5, Thủ Tướng Lý Hiển
Long, trong bài phát biểu của mình, ngoài việc đề cập đến lịch sử hình thành của Hiệp Hội Các
Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhấn mạnh
tôn chỉ ban đầu của ASEAN là nhằm thành lập “Liên Minh Quân Sự” để chống lại
xu thế lan rộng của Chủ Nghĩa Cộng Sản ở Đông Nam Á trong những năm đầu Chiến
tranh lạnh, Thủ Tướng Lý Hiển Long cũng đã phát biểu rằng Việt Nam từng “XÂM LƯỢC” Campuchia, khi đề
cập đến thời gian quân đội Việt Nam “CHIẾM ĐÓNG” đất nước Chùa Tháp này từ năm
1979, trong bối cảnh Việt Nam đang mưu tìm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để
trở thành ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đã khiến
cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng như một bộ phận không nhỏ những kẻ cuồng
cộng trở nên điên tiết, trước phát biểu đó của Thủ tướng
Singapore và thật khôi hài là Bộ Ngoại Giao Việt Nam còn kêu gọi Thủ Tướng Lý Hiển
Long phải đưa ra lời xin lỗi, thậm chí còn kêu gọi người Việt tẩy chay không
đi du lịch Singapore…
Toàn dân đang sống trong bầu không khí tưởng niệm 42 năm
Cộng sản đem quân xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập và có chủ
quyền, dùng bạo lực bom đạn thống nhất Đất nước để hoàn toàn áp đặt lên con
Hồng cháu Lạc chế độ xã hội chủ nghĩa không tưởng, độc tài toàn trị bất công.
Kể từ đó đến nay, Cộng sản tước đoạt mọi nhân quyền và dân quyền của Đồng bào,
chiếm lĩnh và vơ vét mọi tài nguyên Quốc gia, dùng nhiều thủ đoạn cướp bóc tài
sản của mọi giới Dân lành, phá tan hoang Đất nước về mọi phương diện, khiến cho
vô số Đồng bào chỉ muốn rời bỏ Quê hương, tạo nhiều cơ hội cho Tàu cộng xâm
nhập và đe dọa Tổ quốc, chuẩn bị chạy ra nước ngoài sinh sống (nhất là những
tay tư bản đỏ).
NGUYỄN PHÙNG PHONG MỘT TRÙM BUÔN NGƯỜI VÀ KINH DOANH THÂN XÁC PHỤ NỮ, MỘT BỐ GIÀ MAFIA CHUYÊN BẮT CÓC TỐNG TIỀN, ĐỘI LỐT CỰU TỬ TÙ, CỰU ĐẠI ÚY BIỆT KÍCH MỸ
NGUYỄN PHÙNG PHONG, Chủ Động Mãi Dâm BÌNH PHONG một trùm buôn người và kinh doanh thân xác phụ nữ với thâm niên 17 năm buôn bán phụ nữ ở Cambodia, NGUYỄN PHÙNG PHONG đã buôn bán hơn 360 cháu gái vị thành niên Việt Nam vào khắp các động mại dâm tại Châu Á
Kính thưa vị,
Kính
thưa quý thân hữu cùng quý chiến hữu,
Từ năm 2006 trở lại đây, trên môt số trang mạng xuất hiện một số bài viết ký
tên là cựu đại úy biệt kích Mỹ, cựu tử tù trại A 20 Xuân Phước, cũng như một số
bài trả lời phỏng vấn trên các báo đài của người Việt hải ngoại mà người trả
lời phỏng vấn cũng xưng danh là cựu đại úy Biệt Kích Mỹ Nguyễn Phùng Phong .
Gần đây Liên Hội Chiến Sỹ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (LHCSVNCH) lại nhân được
yêu cầu của Tiến Sỹ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành Ủy Ban Cứu Trợ Thuyền
Nhân Boatpeople SOS, xin cứu giúp một đại úy mũ xanh đã tỵ nạn chính trị ở
Cambodge suốt 17 năm xin được tái định cư theo diện tỵ nạn chính trị.
VPY - Trong số
19 đồng bào tỵ nạn thuộc nhóm thuyền nhân cuối cùng bị bỏ quên ở Thái Lan đến
vùng đất hứa hôm 23/09, có bà Lê Thị Ba, cựu nữ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa.
Trần Ngọc Giang -Trước giờ đa số chúng
ta đều cho rằng Dương Văn Minh là đầu sỏ vụ đảo chánh 01-11-1963. Thật ra, DV
Minh chỉ là một hình nộm mà kẻ chính phạm đã khéo léo sắp xếp để hắn đứng ra phạm
tội và chịu tội thay cho mọi người. Kẻ chính phạm là một tên CIA Việt Nam, hắn
xếp người nào vào việc đó, hắn muốn giết Cụ Ngô là cha nuôi hắn, nhưng hắn biết
DVMinh cũng muốn giết Ngài để che dấu tội, thế là hắn xếp DVMinh vào vị trí có
thể giết được Cụ Ngô, đó là kế "mượn đao giết người". Kẻ chính phạm
vô cùng thâm độc đó hiện nay vẫn còn sống, hắn là:TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM MỘT
CON CHÓ PHẢN CHỦ TRONG MỘT BẦY CHÓ PHẢN CHỦ
Trần Trọng Kim
(1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong
giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu
có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên
cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư
chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ
dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức
thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện
riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và
được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được
hiến tặng lại cho thư viện.
Trần Vàng Sao tên thật là Nguyễn Đính (sinh 1941), là một
nhà thơ Việt Nam.
Trần
Vàng Sao tên thật là Nguyễn Đính, sinh năm 1941 (Tân Tỵ) ở Thừa Thiên - Huế.
Năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại học Huế, tham gia các phong trào đấu
tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô
Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành uỷ
Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông
được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những
suy nghĩ của ông về cái gọi là “hậu phương xã hội chủ nghĩa” và sau đó bị tố
cáo, đấu tố và cô lập [2] đến nỗi ông có cảm giác không còn được coi là con người
mà đã thành “một con vật, một con chó, theo như Hồi ký "Tôi bị bắt (Nhớ lại
những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)" sau này của
ông.
Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi
chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi
viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần
trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã
trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những
chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.
Huế
đang là một thành phố chết và đang là một thành phố bị bỏ ngỏ. Cả thành phố chỉ
còn lại vài ba ngọn đèn đường, cái sáng cái tối, đạn pháo Việt Cộng nã đều vào
cầu Trường Tiền và khách sạn Hương Giang, đó đây người ta đang đạp xe ba bánh,
xe xích lô đi hôi của.
Ði
lối cầu mới thì được an toàn, nhưng tôi sẽ đi lối cầu Trường Tiền mặc dù cầu
này đang bị pháo. Một chút lãng mạn trong người tôi nổi dậy, chẳng gì cũng chỉ
còn là lần chót. Ngay đầu cầu, một chiếc M-48 nằm chình ình, máy vẫn còn nổ mà
không có người. Lên đến giữa cầu, tôi nói với mấy thằng lính đệ tử.
Ðây là một cuốn sách thứ ba của tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng, cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu.” Hai cuốn trước đó là “Hồ sơ
mật Dinh Ðộc Lập” và “Khi đồng minh tháo chạy.” Tất cả những tác phẩm của ông
đều rất đồ sộ với phần tổng hợp những chứng liệu đã được giải mật của Hoa Kỳ và
bộ sưu tập của riêng ông.
Từng là Tổng Trưởng Kế Hoạch và Cố Vấn
của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho nên những điều mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng
viết ra trong tác phẩm của ông phải là những điều cần đọc và nên đọc. Ðiểm cần
nhấn mạnh ở đây rằng lần này, có phần tâm tư của Tổng Thống Thiệu, một cựu lãnh
đạo VNCH mà cho đến lúc qua đời, không có cuốn hồi ký nào hay để lại những bút
tích về một giai đoạn chiến tranh nghiêm trọng liên hệ đến sự mất còn của miền
Nam Việt Nam.
Lên
đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì
số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc,
căng thẳng.
Huy
mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:
"Súng
tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận."
"Còn
gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?"
"Thì
ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới."
Chưa
kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai
người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa
bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí
súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
"Ðụ
mẹ, có xuống không?"
"Tôi
lạy anh, anh cho tôi đi theo với."
"Ðụ
mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn."
"Tôi
lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này."
"Ðụ
mẹ, một."
"Tôi
lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết.
Tôi lạy anh, tôi lạy anh."
"Ðụ
mẹ, hai."
"Trời
đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh
mà."
"Ðụ
mẹ, ba."
Tiếng
ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người
trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn
M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến
khác khiêng ném xuống biển.
Nguyên
Anh- Thời sự Việt Nam gần đây dường như bị khủng hoảng với những
cái tin vô thưởng vô phạt,nào là đấu tranh cù cưa với TC, nào là anh chàng bí
thư Thành Hà đi công du xơi bơ thừa sữa cặn của Mỹ mà nhiều người đã tốn hao
công sức bình luận đến độ gần như thừa mứa thông tin, suy luận….
…Tôi lặng người bởi thái độ ngạo mạn và hung hăng của Phạm Văn Đồng….
Vào ngày 29/10/1977, một chiếc DC3 của Việt Nam, loại Dakota cũ,
bị cưỡng đoạt trong một chuyến bay nội địa và bị buộc bay đến Singapore. Chúng
tôi không thể ngăn nó hạ cánh xuống căn cứ không quân Seletar. Chúng tôi cho
phép phía Việt Nam gởi một phi hành đoàn mới đến lái máy bay về cùng với phi
hành đoàn cũ và những hành khách khác sau khi chúng tôi đã đổ nhiên liệu và tân
trang lại. Chúng tôi truy tố bọn không tặc và đã kết án chúng 14 năm tù giam.
TIẾN
SỸ LÊ HIỂN DƯƠNG CỰU HIỆU TRƯỞNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP -
Nhìn ở nhiều góc độ, tất cả loài vật dù hung dữ tới đâu, độc hại đến cỡ nào,
suy cho cùng cũng có ích cho con người nếu biết sử dụng đúng lúc và đúng chỗ,
kể cả thực vật tưởng chừng nguy hiểm như loài hoa Anh Túc (Cây thuốc phiện)
cũng được khoa học chế biến phục vụ con người trị bệnh và xoa dịu nỗi đau thể
xác, chỉ có cộng sản là từ ngày có mặt nó trong thế giới loài người, chỉ mang
đến thảm họa nghèo đói, đau buồn, chết chóc vì bản chất khát máu, và sở trường
hận thù giai cấp của nó. Điều đó có thể lý giải vì sao người Nhật dựng tượng
Nghĩa Khuyển để ghi nhận lòng trung thành của loài chó, thì tại Nga người dân
kéo đổ sập tượng Lênin. Dù hắn cũng mang hình dáng con người nhưng ẩn bên trong
là một tâm hồn què quặt, đui mù chân lý, hết sức hoang tưởng và tàn bạo, một
thời là pháo đài của đảng cộng sản tại VN, đứng đầu là Hồ Chí Minh.
Đôi lời về tác giả:Ông Đỗ Đức Mậu năm nay 83 tuổi. Ông nguyên là một giáo viên dạy sử
tại Hải Phòng. Trong khi còn công tác và nhiều năm sau khi đã nghỉ hưu, ông đã
không dám lên tiếng nhưng đến lúc cuối đời ông phải một lần nói lên sự thật -
dù sự thật đó chỉ là một bài viết nhưng ông muốn nhiều người, nhất là thế hệ
trẻ biết được chân dung thật sự của Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một người dạy
sử đã từng phục vụ chế độ. Bài viết này là một bản đánh máy 18 trang chữ rất
nhỏ mà tác giả muốn được đăng trên Danlambao. Danlambao đánh máy lại và chia ra
từng phần để gửi đến các bạn đọc.
Đây là đoạn hồi ký của
tôi trong những ngày Cộng sản chiếm miền Nam, và 2 lần vượt ngục tù cải tạo
trong 3 năm sống với chế độ Cộng sản. Hồi ký này tôi viết tại trại tỵ nạn Mã
Lai, Tiểu bang Kelantan, Tỉnh Kotabaru.
Mùa Thu, năm 1978.
Dĩ vãng
hiện lên đầu óc tôi như cơn ác mộng bi thương buồn thảm!
...Ngày
21-4-75, tôi được báo cho biết có cuộc họp báo nơi phòng Khánh Tiết (trong Dinh
Độc Lập). Nội dung cuộc họp báo tôi chưa đượcbiết, đó cũng là việc làm bảo mật
thường ngày của khối Cận Vệ chúng tôi.
Người Pháp đã mắc
sai lầm khi để bị kéo vào cuộc chiến tranh và không thấy được tấm áo giáp thần
kỳ dệt bằng lòng yêu nước của người Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã mặc được. Vì thế
người Pháp đã tính nhầm rằng chỉ cần dăm tháng là có thể bắt được Hồ Chí Minh
đem ra tòa án Nuremberg xét xử kẻ tội phạm chiến tranh. Người Pháp lại mắc một
sai lầm nữa là kiêu căng, bắt chấp kẻ địch xảo quyệt điêu ngoa và coi thường sức
mạnh Việt Nam.
Vào
ngày thứ nhì của trận đánh, thứ Năm, ngày 1 tháng 2 năm 1968, Bộ Chỉ Huy LLĐN
X-Ray, cách Huế 8 dặm, bên QL1, trong không khí phức tạp vừa lạc quan, vừa hoài
nghi và tin tức sai lạc. Cọng thêm vào đó là vấn đề cố hữu của các chỉ huy trưởng
ở Việt Nam – do áp lực từ Hoa Thạnh Đốn, muốn nói những gì họ muốn nghe mà
thôi. – Người ta có thể hiểu tại sao Tướng LaHue, khi được phái viên UPI phỏng
vấn nói là vào ngày thứ hai của cuộc chiến: “Hoàn toàn chắc chắn là chúng tôi
kiểm soát phía nam thành phố. Chúng tôi nghĩ là họ (CSBV) không thể nào chịu đựng
nỗi. Tôi biết họ không thể chống đỡ được. Tôi không nghĩ là họ có đủ tiếp tế,
và khi xử dụng hết những thứ họ đem lẻn vào được thì họ không còn gì nữa cả.”
Cựu Tù Nhân Lương Tâm Phạm Thanh Nghiên - Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén tâm hương trước tấm bia không
mộ của 626 người tù chính trị đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn
1975-1988. Và rất nhiều những người tù chính trị khác đã chết oan khiên trong
ngục tù cộng sản.
Mặc Lâm RFA - Mạng
xã hội hôm nay không những nóng lên vì tin biển đã sạch, phi trường Tân Sơn Nhất
ngập như sông, máy bay huấn luyện rơi giết phi công còn rất trẻ và đâu đó người
này người khác lại bực dọc vì một nhà thơ mà họ yêu mến nay bỗng dưng tuyên bố
những điều gián tiếp từ khước tất cả những gì mà ông từng viết và được ưa chuộng
trước đây. Nhà thơ ấy là Thái Bá Tân, với cung cách “khẩu thơ” của những bài
ngũ ngôn tuyệt vời.
Tiến Sỹ NGUYỄN VĂN ĐỆ Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp (Sưu Tầm) - Có một câu chuyện
rất hay phía sau nhiều bức tranh, bức điêu khắc trên thế giới về một ông già
đang ngậm bầu sữa cô gái trẻ.
Nguyễn Thu Trâm8406
- Đối với phần
lớn người từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 thì sự kiện ngày 01 tháng 11 năm
1963 mãi mãi là một cơn ác mộng. Nhất là bản tin ngắn được phát đi vào khoảng
10 giờ sáng ngày 02 tháng 11, loan báo về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
và cố vấn Ngô Đình Nhu đã thực sự làm suy sụp tinh thần của hầu hết đồng bào di
cư, nhất là đồng bào công giáo. Đối với hầu hết người Bắc di dân thì cái chết của
Tổng Thống Ngô Đình Diệm và sự cáo chung của nền Đệ Nhất Cộng Hòa là một hồi
chuông báo tử cho nền cộng hòa ở miền Nam. Những giáo dân di cư, trong đó có cả
ông nội tôi, đã mường tượng một ngày quân đội cộng sản tiến vào Sài gòn, và một
cuộc “di cư” nữa để lánh nạn cộng sản sẽ diễn ra sau đó.
Nguyễn Thu Trâm - Dẫu vẫn còn nhiều kẻ nô lệ cộng sản và
những tên đầu sỏ cộng sản cứ tiếp tục sống trong u mê lầm lạc và tin tưởng một
cách mù quán rằng chính chủ nghĩa cộng sản sẽ tạo ra một thiên đường ngay tại
thế gian này và rằng chính chế độ công sản sẽ giải phóng con người ra khỏi sự
đói rách lầm than và ra khỏi mọi sự áp bức bất công, bởi tại thiên đường cộng
sản chủ nghĩa hoàn toàn không có giai cấp, mà nơi đó mọi con người đều bình
đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, bình đẳng về phẩm giá và bình đẳng về mọi phương
diện, kể cả quyền lực, bởi Xã Hội Chủ Nghĩa và Cộng Sản Chủ Nghĩa là giai đoạn
phát triển tột cùng của nhân loại, ngoài ra sẽ không tồn tại bất cứ một chế độ
xã hội nào khác nữa trong cộng đồng nhân loại.
Đôi lời về tác giả:Ông Đỗ Đức Mậu năm nay 83 tuổi. Ông nguyên là một giáo viên dạy sử
tại Hải Phòng. Trong khi còn công tác và nhiều năm sau khi đã nghỉ hưu, ông đã
không dám lên tiếng nhưng đến lúc cuối đời ông phải một lần nói lên sự thật -
dù sự thật đó chỉ là một bài viết nhưng ông muốn nhiều người, nhất là thế hệ
trẻ biết được chân dung thật sự của Hồ Chí Minh dưới góc nhìn của một người dạy
sử đã từng phục vụ chế độ. Bài viết này là một bản đánh máy 18 trang chữ rất
nhỏ mà tác giả muốn được đăng trên Danlambao. Danlambao đánh máy lại và chia ra
từng phần để gửi đến các bạn đọc.
Người Pháp đã mắc
sai lầm khi để bị kéo vào cuộc chiến tranh và không thấy được tấm áo giáp thần
kỳ dệt bằng lòng yêu nước của người Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã mặc được. Vì thế
người Pháp đã tính nhầm rằng chỉ cần dăm tháng là có thể bắt được Hồ Chí Minh
đem ra tòa án Nuremberg xét xử kẻ tội phạm chiến tranh. Người Pháp lại mắc một
sai lầm nữa là kiêu căng, bắt chấp kẻ địch xảo quyệt điêu ngoa và coi thường sức
mạnh Việt Nam.
Trần Đông Phong - Gần
đây, một vài vị khán giả của đài truyền hình STBN có liên lạc với người viết để
hỏi thăm thêm về một bài thơ của cụ Phan Bội Châu tặng cho ông Ngô Đình Diệm
vào năm 1933 mà họ đã nghe được trong một buổi nói chuyện giữa người viết và ký
giả Tường Thắng, người phụ trách Chương Trình Lịch Sử Cận Đại trên đài truyền
hình STBN, hồi mấy tháng về trước.
CHƯƠNG
7: THÀNH NỘI.PHẦN MỘT: VỌNG LÂU
TRÊN CỬA THÀNH.
Thật
là một điều không hợp lý chút nào sau khi rút những người lính TQLC trang bị hiện
đại ra khỏi những đám ruộng nước lầy lội thì lại đẩy họ vào chiến đấu ở một khu
thành lũy xây từ thế kỷ 18 (thật ra là xây vào đầu thế kỷ 19, đời vua Gia Long
-1802-1820 ngd), nhiều hồ ao chung quanh với tất cả những gì khó khăn.